Dạy nghề cắt tóc

VỀ GIÁO TRÌNH HỌC – học viên được học ,hướng dẫn trực tiếp trên đầu thật với giáo trình toni&guy-sassoon bởi giáo viên hàng đầu việt nam XEM VI DEO VÀ HÌNH ẢNH HỌC TẠI TRUNG TÂM

A. KHÓA CẮT

Khóa học cắt tóc gồm những nội dung gì::

1 – Ông tổ nghề tóc
2 – Giới thiệu dụng cụ
3 – Kéo cắt tóc
4 – Cách cầm kéo
5 – Tư thế đứng cắt tóc

Ông tổ nghề tóc Việt Nam xuất hiện ở thời nào?

hoc cat toc

Nghề tóc cũng như mọi nghề nghiệp khác, là một lĩnh vực hoạt động mà qua đào tạo, người làm nghề có được những tri thức, những kỷ năng để tạo ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Điều kiện cần và đủ cho nghề tóc ra đời bao gồm những yếu tố sau:

  1. Sự phát triển của kỹ thuật. Trong nghề tóc đó là kỹ thuật luyện kim với các sản phẩm, dụng cụ làm nghề thô sơ nhất như dao. Các sản phẩm tinh xảo và chuyên dụng khác, cũng xuất phát từ kỹ nghệ luyện kim về sau mới xuất hiện.
  2. Nhu cầu xã hội: Nhu cầu này là của số đông, ở nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội. Giả thuyết các thái giám cắt tóc cho các ông vua, bà chúa trong các triều đại phong kiến, là ông tổ nghề tóc không xem là có cơ sở vì khi đó công việc này chỉ được thực hiện cho một vài người ở phạm vi hẹp, không phải từ nhu cầu xã hội.

Trên cơ sở các yếu tố này, người viết đặt ra các giả thuyết:

Ông tổ nghề tóc Việt Nam là người đầu tiên cắt tóc cho các bà đầm Pháp?

hoc cat toc

Việc xác định ai là ông tổ nghề tóc VN, hiện đang có nhiều ý kiến tranh cãi. Theo ý kiến của một số nhà tạo mẫu tóc đại diện cho giới làm tóc ở hai miền Nam, Bắc thuộc nhiều thế hệ, mặc dù là tranh cãi chủ yếu xoay quanh vấn đề địa giới, nhưng thống nhất ở một điểm: Ông tổ nghề tóc VN có thể xuất hiện ở thời Pháp thuộc, đầu thế kỷ XX, là người đầu tiên tiếp cận được với những dụng cụ làm tóc chuyên dụng (có nguồn gốc từ Pháp, do các bà đầm Pháp mang sang VN); và được hướng dẫn các kỹ năng làm tóc từ chính những bà đầm này.

Theo đó, nhu cầu làm đẹp cùng váy đầm, tóc ngắn đã lan dần sang các bà vợ của giới quan chức, thơ lại làm việc chon người Pháp. Đây cũng là những khách hàng đầu tiên của người hành nghề làm tóc thời đó tại Việt Nam.

Vậy người Việt ở khu vực nào, Nam Kỳ – với Sài Gòn, Gia Định; Bắc Kỳ – Hà Nội, Hải Phòng; và Trung Kỳ – Hội An, Đà Nẵng, đã tiếp cận sớm nhất với “văn minh” làm tóc, thông qua những người Pháp?

Câu hỏi này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Do đó, các vị tiền bối của nghề tóc thuộc thế hệ nửa đầu thế kỷ XX vẫn không tìm được tiếng nói chung khi muốn xác định ai, ở khu vực nào, là người đầu tiên hành nghề làm tóc ở VN.

Cũng xin nói thêm, phải đến những thập niên 1920-1930, cùng với sự mở rộng của các đô thị, tầng lớp tiểu tư sản người Việt ra đời, văn minh phương Tây đổ bộ vào sinh hoạt hàng ngày như nghệ thuật, thời trang…, thì mới có hình ảnh cô tân thời răng trắng, áo dài, tóc bồng. Khi đó, khái niệm “thời trang” bao gồm nghệ thuật tóc như một hiện tượng xã hội, mới có mặt ở Hà Nội – Sài Gòn.

Nghề tóc có thể ra đời từ phong trao Duy Tân – Đông Kinh Nghĩa Thục?

hoc cat toc

Một trong những tiền đề cho sự ra đời văn hóa thị dân đầu thế kỷ XX, là phong trào Duy Tân năm 1905. Đây là cuộc vận động cải cách xã hội, “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” với tâm điểm là “đoạn tuyệt với các lạc hậu cũ”, hô hào đàn ông Vn “bỏ túi bó” và các tóc ngắn”. Vì vậy, dân chúng có lúc đã gọi những người tham gia phong trào là “Giặc Tông đơ” hoặc “Phong trào húi hè!” hoặc “Giặc đồng bào”. Phong trào “Cắt Búi Tó, Cắt tóc ngắn” khởi đi miền Trung, từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi ra Huế và được dân chúng khắp nơi hưởng ứng nhiệt liệt. Thanh niên, học sinh từng đoàn, từng nhóm, đứng trên mọi nẻo đường với chiếc kéo, chiếc tông đơ trên tay, ca vang bài “Húi hè!” với lời hát: “Húi hè, húi hè! Bỏ cái ngu này, bỏ cái dại này. Ngày nay ta cúp, ngày mai ta cạo, Húi hè!”.

Một gương mặt sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, chí sĩ Nguyễn Quyền(1886-1941), còn có bài thơ “Cắt tóc”: “Phen này cắt tóc đi tu/ Tụng kinh Độc Lập ở chùa Duy Tân…” Có thể thấy ở thời này, các dụng cụ của nghề tóc như kéo, tông đơ và nhu cầu xã hội đều đã có. Vậy chúng ta có thể khẳng định nghề tóc ở VN đã có ở thời này.

Ông tổ nghề tóc VN  xuất hiện ở thời Hùng Vương?

hoc cat toc

Nhưng nhìn lại lịch sử văn minh Việt Nam, trước năm 1905, người Việt đã cắt tóc ngắn và trong xã hội đã phát triển nhiều ngành nghề thủ công. Theo Ủy ban Khoa Học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, 1971, tr.48, thì “người Việt thời Hùng Vương – thời dựng nước buổi đầu tiên, ai cũng xăm mình. Ai cũng búi tó hoặc cắt tóc ngắn (cũng có người bỏ xõa tóc hoặc tết đuôi sam)”. Có tóc ngắn, tức là có cắt tóc.

Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà thiết chế Nhà nước cũng như tổ chức xã hội còn hết sức sơ khai. Cộng đồng dân cư là các bộ lạc từng bước sáp nhập với nhau. Đời sống kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, cho hề có thương mại – dịch vụ, với tục nhuộm răng, ăn trầu và thờ cúng tổ tiên, ưa chuộng lễ hội, múa hát; trong khi, trình độ kỹ nghệ bấy giờ mới bước qua thời đại đồ đá và tiến tới văn minh đồng thau, với kỹ thuật đúc đồng. Các di chỉ để lại cho thấy mãi sau này mới có các dụng cụ nông nghiệp thô sơ và có nghề luyện sắt thực sự phát triển để cho ra các công cụ dành cho việc cắt tóc như dao, kéo.

Như vậy, người phụ trách cắt tóc cho các cư dân bộ lạc ở thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc không thể là “thợ”, và cắt tóc lúc đó cũng chưa phải là một “nghề”.

Ông tổ nghề tóc VN xuất hiện từ thời Lý?

hoc cat toc

Lịch sử Việt Nam sang trang với mô hình nhà nước phong kiến, nhưng phải đến triều Lý, người Việt mới đạt được những thành tựu rực rỡ trong đời sống kinh tế – văn hóa.

Theo “Lịch sử văn hóa Phật giáo Việt Nam” của Lê Mạnh Phát, trước khi phật giáo truyền vào Trung Quốc, VN đã có một lịch sử phật giáo tương đối phát triển. Sách này cũng trích dẫn các tích về Phật tử đầu tiên là Chử Đồng Tử, thuộc thế kỷ 2-3 trước công nguyên và nhiều chứng cứ khác cho thấy Phật giáo đã du nhập vào nước ta vào thế kỷ thứ 2 BC. Tuy nhiên, từ thành Luy Lâu – trung tâm Phật giáo lớn thời Pháp thuộc, với các câu chuyện về Thạch phật Quang và Phật Mẫu Man Nương, cũng phải trải qua gần 1000 năm, đến triều Lý Thái Tổ (1010-1028), lịch sử Phật giáo mới không còn thuần túy là những huyền thoại hay truyền thuyết.

Trong thời kỳ Lý Thái Tổ, từ quan đến dân đều là Phật tử. Ai cũng dành một khoản thời gian trong cuộc đời để quy y học giáo lý nhà Phật. Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét: “Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền … Dân chúng quá nửa nước là sư…”. Phật giáo thậm chí hòa làm một thành tín ngưỡng dân gian. Tục bán khoán cho con vào chùa là một ví dụ.

Theo quan niệm của người xưa, trẻ nhở từ khi mới sinh đến tuổi trưởng thành phải nhờ sự nuôi dưỡng, dạy dỗ chăm sóc của cha mẹ. Không những thế còn phải được sự che chở phù hộ, đồ trì của Phật, Thánh. Vì thế người xưa đã có tục bán khoán, tức là làm lễ để cầu xin Phật Thánh nhận trẻ nhỏ làm con (con bán) và giúp đỡ chúng đến tuổi trưởng thành. Cho tới nay tục bán khoán vẫn còn và nhiều người vẫn “bán” con vào chùa cho đến năm 13 tuổi, hết một giáp thì chuộc về (làm lễ “tháo khoán”), hoặc bán cho đến hết đời.

Dưới triều nhà Lý, kỹ thuật cũng để phát triển, đặc biệt là luyện kim, đúc thuyền chiến, súng thần công, các vũ khí bằng sắt. Ngoài ra, dệt, gốm và xây dựng cũng là những kỹ thuật truyền thống tiêu biểu (Nguồn : Tiến trình lịch sử Việt Nam – Nhà xuất bản Giáo dục – PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc Tr.100-105).

Như vậy, căn cứ trên việc phát triển kỹ thuật là nhu cầu xã hội, có thể nói vào thời nhà Lý, nghề cắt tóc đã ra đời(?) Và ông tổ nghề cắt tóc, người đầu tiên khởi xướng, đào tạo, truyền dạy nghề cắt tóc, rất có thể là một vị sư, đã bắt đầu từ việc “phát” cho Phật tử quy y, đến việc cắt tóc cho trẻ con trong các lễ bán khoán, với những kiểu tóc đã có từ thời xưa (theo Đào Duy Anh) như ba chỏm, trái đào, tóc cút?

Còn có thêm một luận chứng có thể giúp củng cố giả thuyết này, là: Sau nhà Lý đạo Phật tiếp tục được hoằng dương qua đời Trần – Lê. Học giả Lê Quý Đôn, trong sách “Kiến văn tiểu lục”: “Thời nhà Trần, người trong nước đều cạo đầu, cho nên trong “Sứ Giao Châu thi tập” của Trần Cương Trung nhà Nguyên chua rằng: “con trai đầu trọc, người nào có quan chức thì trùm đầu bằng khăn xanh, nhân dân đều như sư cả”. Tục cắt tóc này đến Hoàng Phúc nhà Minh mới cấm, này dân ở ở Kiên Lao và Trà Lũ huyện Giao Thủy (Nam Định ngày nay) vẫn còn giữ tục ấy. Đàn bà cắt tóc để lại ba tấc tết ở trên đỉnh đầu, buộc lấy đầu sợi tóc rồi búi chặt lại và cài bằng trâm, ở đằng sau gáy không có tóc, cũng không xoa dầu xoa sáp gì cả. Tôi nhận thấy, đấy là phong tục triều nhà Trần, đến bản triều ngày nay thì tục đội khăn xanh, mặc áo thâm, cắt tóc và xăm mình đã thay đổi rồi”.

Như Lê Quý Đôn cho biết, thời nhà Trần nhân dân ta đã gọt tóc hay ít nhất cũng là cắt tóc ngắn. Mà việc cắt tóc như một nhu cầu xã hội thì lại nãy sinh và phổ cập từ thời Lý; tức là, dưới triều Lý, cắt tóc đã chính thức trở thành một nghề, và ông tổ nghề tóc đã xuất hiện cùng các kiểu tóc của người Việt, xem ra, là có lý hơn cả.

Lời kết

Và như vậy thì nghề tóc ở VN đã có từ 1000 năm trước, song hành cùng những thăng trầm của dân tộc Việt.

Tuy nhiên, dù thế nào thì những lập luận trên cũng chỉ là quan điểm cá nhân, với những dẫn chứng lịch sử, văn hóa nói chung và những đặc thù của ngành tóc nói riêng. Vì vậy, người viết rất mong sẽ nhận được phản hồi ý kiến đóng góp về chủ đề này hoặc chỉ ra những sai sót hay dẫn chứng chưa chính xác, chưa đủ sức thuyết phục, nếu có, để có thể hoàn thiện hơn nữa “công cuộc” truy tầm thời điểm xuất hiện nghề tóc ở VN, và từ đó có thể tìm ra lý lịch nhân vật đã khai sinh ra nghề tóc Việt Nam.

Xem thêm: Khóa học cắt tóc tại Nhất Duy

I. Bài học cắt tóc số 1

Một số dụng cụ trong nghề tóc

I. Kéo cắt tóc

keo cat toc

Kéo cắt tóc

II. Kéo tỉa

keo tia

Kéo tỉa ( A,B,C: Kéo tỉa một lưỡi răng; D: Kéo tỉa 2 lưỡi răng )

III. Dao cắt tóc

dao cat toc

Dao cắt tóc , dao cạo

IV. Lược

– Lược tốt không bị cong vênh, chịu được nhiệt độ cao

luoc cat toc

Lược cắt tóc, lược nhọn, lược chải bới

V. Lược sấy tóc

Một chiếc lược tốt nên có:
– Răng làm bằng sừng tốt hay các chất liệu tự nhiên khác
– Răng làm từ sợi nylon không phải làm từ nhựa
– Tay cầm bằng gỗ hoặc được bọc bằng lớp nhựa mềm có thiết kế tiện dụng để kẹp và dễ giữ tóc khi tạo kiểu tóc
– Đầu răng lược được bọc tròn trên tất cả các lược có hình mái chèo, dù đó là lược dạng tròn hay vuông
– Các đầu răng lược bọc tròn được đúc, chứ không phải dán.
– Thân làm bằng kim loại hay sứ có tác dụng giữ nhiệt

luoc say toc

luoc say toc

Lược sấy tóc

VI. Tông đơ

– Lưỡi cắt làm bằng lithium cho độ bén cao
– Tông đơ cắm điện tạo chuyển động bằng điện từ, trọng lượng nặng, điều chỉnh được lưỡi cắt.
– Tông đơ pin sạc, kích thước nhỏ gọn, nhẹ. Tạo chuyển động bằng moto. Tính di động cao.

clipper

Tông đơ (Clipper)

VII. Máy kẹp, máy uốn lọn, máy bấm tóc

– Vật liệu : máy kẹp làm từ Ceramic, Tuamalin hoặc Titanium cho chất lượng tốt và độ bền cao.
Máy tốt làm nóng nhanh, nhiệt độ ổn định, kẹp tóc trơn không bị rích.
– Bề rộng bản : bản rộng cho tóc dài và dầy, bản mỏng cho tóc thưa và ngắn.
– Nhiệt độ : nhiều lựa chọn nhiệt độ cho các loại tóc khỏe và yếu.
– Hình dáng : loại kẹp thẳng bản nhỏ, bo tròn cạnh có thể dùng để uốn lọn.
– Máy bấm gãy có kèm nhiều cỡ răng.

may kep

Máy kẹp thẳng, máy kẹp lọn, máy kẹp gợn sóng, bấm gãy

VIII. Máy sấy tóc

– Máy sấy kích thước nhỏ, công suất thấp, trọng lượng nhẹ thích hợp để sấy tạo kiểu.
– Máy sấy công suất lớn, sấy khô nhanh, tiêu thụ nhiều điện.

may say toc

Máy sấy

 

3 – Kéo cắt tóc

Việc lựa chọn kéo cắt tóc phù hợp với bạn có thể là một quyết định phức tạp và khó khăn với hàng ngàn loại kéo khác nhau.

Để sự lựa chọn này dễ dàng hơn và ít phức tạp hơn, có 3 yếu tố quyết định khi lựa chọn kéo:
– Chọn loại lưỡi kéo phù hợp với nhu cầu, việc này bao gồm xem xét chất liệu và loại cạnh
– Chọn loại tay cầm của kéo đem lại cho bạn sự thoải mái nhất trong kiểu cắt ưa thích của bạn
– Chọn chiều dài hoặc loại tạo kết cấu và đánh giá các đặc tính khác.

I. Cấu tạo của kéo cắt tóc

cau tao keo cat toc

 

II. Các loại lưỡi kéo
– Loại lưỡi kéo sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên hiệu quả và khả năng cắt của kéo.
– Nó là yếu tố quan trọng nhất cần xem xét khi lựa chọn kéo.

1- Lưỡi vát cạnh
– Đây là loại lâu đời và phổ biến nhất ngày nay. Được làm tự hỗn hợp kim loại nhẹ.
– Loại lưỡi này có thể cắt tốt nhưng đòi hỏi nhiều lực nhấn hơn.
– Loại lưỡi này ít mắc tiền hơn loại lưỡi cạnh lồi. Hạn chế chính của loại lưỡi này là không thể cắt trượt.

keo-luoi-vat-canh

2- Lưỡi vát cạnh có răng cưa hay gợn sóng
– Loại lưỡi này có các rãnh nhỏ khắc vào bề mặt cạnh. Mục đích là để giữ tóc khỏi trượt khỏi cạnh.
– Loại này thường rẽ tiền, thích hợp để cắt các đường cắt thẳng, cắt chậm các chi tiết hoặc cắt trên tóc khô.
– Loại lưỡi này cần nhiều lực để cắt và có thể gây hại đến ngọn tóc. Loại này không thể dùng để cắt trượt vì tóc kẹt trên lưỡi kéo.

keo-luoi-rang-cua

3- Lưỡi cạnh lồi
– Loại lưỡi này cực kỳ mạnh mẽ, cắt rất bén và nhẹ nhàng. Lưỡi kéo làm từ kim loại không rĩ có trọng lượng nặng hơn loại vát cạnh.
– Vì mặt ngoài của lưỡi được làm lồi ra, loại lưỡi này đặc biệt thích hợp cho kỹ thuật cắt trượt và các kỹ thuật cắt nâng cao khác.
– Cạnh bén hơn làm nó cắt trơn tru hơn và giữ độ bén lâu hơn.
– Do các đặc tính này nên loại lưỡi kéo này khó chế tạo hơn, có giá đắt hơn và phải được mài theo cách riêng.

keo-luoi-canh-loi

– Gần như tất cả các loại kéo chất lượng cao có mặt trong của lưỡi lõm.
– Nói cách khác phía giữa lưới kéo thấp hơn và ra ngoài cạnh lưỡi nhô cao hơn.
– Điều này để các cạnh lưỡi tiếp xúc nhau nhưng cạnh lưỡi không bị ép kéo vào nhau bên trong lưỡi khi kéo đóng lại.

III. Chất liệu chế tạo kéo
– Hai phương pháp phổ biến để chế tạo kéo là rèn và đúc. Phương pháp rèn làm kim loại nén chặt hơn và cứng hơn,
giữ được độ bén lâu hơn. Phương pháp đúc sau khi làm nguội khuôn, các phân tử bị nở ra dẫn đến mất độ bén và trở nền giòn hơn.
– Phương pháp đúc dễ thực hiện hơn nên giá thành rẽ hơn. Khó có thể phân biệt bằng mắt kéo được chế tạo theo phương pháp nào.
– Phần lớn kéo chế tạo ở Đài Loan và Trung Quốc là theo phương pháp đúc.

+ Hợp kim
– Đa số kéo được chế tạo từ một hợp kim nào đó.
– Hợp kim được tạo từ việc kết hợp hai hay nhiều nguyên tố kim loại để tạo độ chắc chống lại sự ăn mòn.
– Tuổi thọ, đồ bền, độ bén của kéo được gia tăng tùy thuộc vào kim loại nền trong hợp kim.
– Niken (kền) được thêm vào trong hầu hết các hợp kim, để tăng độ sáng bóng và chống lại sự ăn mòn.
– Một số người có thể bị dị ứng với hợp kim có niken.

+ Hợp kim thép không gỉ
– Đây là hợp kim phổ biến nhất trong chế tạo kéo. Nó dễ dàng bảo quản và giữ cạnh cắt tốt.
– Hai loại thép không gỉ phổ biến là 420A và 440C. 440C giữ cạnh bén tốt hơn vì chứa lượng cacbon cao hơn.
– Thép không gỉ tốt nhất là của Nhật và Đức.

+ Hợp kim Coban
– Là vật liệu phổ biến khác trong sản xuất kéo. Coban chống gỉ và ăn mòn hóa học tuyệt vời.
– Vấn đề là nó dễ mẻ và lưỡi kéo không thể điều chỉnh được sau nhiều lần mài.

+ Hợp kim Molypdden
– Đây là một vật liệu lý tưởng như một bước nhảy từ hợp kim thép không gỉ hoặc Coban.
– Nó có thể được làm cứng hơn mà không bị giòn và Molypdden rất mềm dẻo.
– Có thể cạnh bén hơn so với hợp kim không gỉ hoặc coban.

+Hợp kim Molypdden Coban
– Hợp kim này thêm sự dẻo dai, cứng và bền, giữ được chống ăn mòn mà không dễ vỡ.

+ Thép nung và thép cacbua
– Một vật liệu trong chế tạo kéo đắt tiền. Thép nung có độ cứng rất cao nhưng giòn và khó mài.
– Thép cacbua có thể giữ độ bén cực tốt. Vì khó chế tạo kéo từ những vật liệu này nên giá của chúng khá cao.

IV. Tay cầm của kéo

Khi lựa chọn tay cầm của kéo, có 2 điều cần xem xét:
– Vị trí tổng thể của bàn tay
– Phân cách ngón cái
Điều quan trọng là tìm được sự kết hợp của hai yếu tố trên sẽ đem lại cho bạn sự thoải mái nhất, dễ sử dụng nhất và hiệu quả nhất.

1- Vị trí tay cầm

+ Tay cầm đối xứng

tay cam doi xungtay cam doi xung

opposinggrip
– Loại tay cầm này lâu đời nhất, đối xứng nhau qua đinh ốc ở giữa.
– Loại kéo này ép người cắt phải nâng cao khuỷu tay tới đường ngang trong nhiều kỹ thuật cắt.
– Chúng phù hợp với người cắt bằng ngón cái và ngón giữa.
– Tuy nhiên chúng là kiểu gây Hội chứng RSI ( Repetitive Stain Injury – chấn thương do căng thẳng lặp đi lặp lại)
và Hội chứng ống cổ tay ( CTS – Carpal Tunnel Syndrome – bệnh lý gây ra do dây thần kinh giữa của lòng bàn tay bị chèn ép.)

+Tay cầm dịch chuyển

taycamdichchuyentay cam dich chuyen

offsetgrip
– Loại này có tay cầm ngón cái ngắn hơn tay cầm của ngón kia. Chúng cố làm cho thoải mái hơn và giữ sức khỏe cho người cắt.
– Tay cầm ngón cái ngắn hơn giúp ít lực nhấn lên gân ngón cái và do đó có thể giảm chứng CTS.

+Tay cầm nghển

tay cam nghentay cam nghen

cranegrip
Cũng giống tay cầm dịch chuyển nhưng có một khác biệt. Nếu cầm lưỡi kéo theo chiều ngang, tay cầm sẽ hướng xuống dưới thay vì cân giữa lưỡi kéo. Điều này là nhân tố tối ưu vì nó làm giảm bớt và ngăn lực nhấn lên ngón cái, cánh tay và vai bằng việc cho phép người cắt với khuỷu tay ở vị trí thấp hơn. Nó giảm thiểu chứng RSI.

+ Tay cầm nghển mở rộng hay tay cầm trung lập

tay cam nghentay cam nghen
– Tay cầm ngón cái ngắn hơn nhiều và vòng ngón cái dịch chuyển xa hơn vòng ngón tay kia.
– Có thể vòng ngón cái ở vị trí trung lập, qua khỏi vị trí ngón trỏ như một tay đỡ.
– Giảm tối thiểu lực nhấn lên bàn tay. Thiết kế làm giảm chứng RSI.

2- Tay cầm của ngón cái

thumb handle
+ Ngón cái phẳng chuẩn

flatthumb standardgrip
– Loại phổ thông lâu đời. Nó có thể dùng cho tay phải lẫn tay trái. Không tạo lợi ích tối ưu nào.

+ Tay cầm cắt lõm

cutaway cutaway+thumb
-Có một vết cắt lõm trên vòng ngón tay. Nó cho phép cạnh ngón cái được dùng để mở kéo,
cho một tùy chọn hạ thấp khuỷu tay khi cắt.

+ Tay cầm theo khung xương

anatomic anatomicgrip
– Cho phép tạo chuyển động tự do hơn, cũng giúp hạ thấp khuỷu tay khi cắt.

+ Tay cầm xoay

rotating rotatingthumb
– Là loại cải tiến. Khi sử dụng đúng, nó cho phép toàn bộ thao tác cắt được thực hiện với khuỷu tay hạ thấp.
– Nó giữ bàn tay được thư giãn. Giúp giảm thiểu chứng RSI. Được khuyến cáo sử dụng bởi bác sĩ.

3. Cung trượt polime ( Polimer Glide )

teflonride

Điểm mài mòn chính của kéo là vùng trượt ở trục. Cung trượt polime cách ly sự ma sát kim loại giữa 2 lưỡi kéo, tạo chuyển động êm nhất có thể.

V. Hệ thống căng kéo

1- Vít điều chỉnh

vit dieu chinh
– Đây là hệ thống lâu đời nhất. Một số có thể được chỉnh bằng đồng xu, số khác đòi hỏi chỉnh bằng tuốc-nơ-vít.
2- Núm điều chỉnh trực tiếp

num dieu chinh truc tiep
Điều chỉnh dễ dàng bằng tay
3- Nhíp lá

leafspring
– Thêm một nhíp lá bên dưới núm điều chỉnh, trải độ căng theo chiều dọc bên trong chốt của kéo.
– Hệ thống này có thể kéo dài tuổi thọ lưỡi kéo bằng việc làm ổn định lưỡi dẫn đến phân phối sóng mang một cách đồng đều.
4- Nhíp lá vòng bi

ballberring
– Có thêm vòng bi giúp tăng cường sự ổn định lưỡi kéo.
– Vòng bi nằm khít ở tâm kéo và các lưỡi kéo xoay trên vòng bi thay vì vòng đệm nylon.
5- Vòng bi phẳng

flatline-tensen
Vòng bi có thêm vít phẳng làm nhiệm vụ chốt hãm. Nó giữ độ căng tốt và ổn định lưỡi kéo.

6. Nhíp lá 2 chiều

Một vài kéo có hệ thống căng kéo có thể hoán đổi được, dành cho những người sử dụng tay trái.
Nút điều chỉnh ở vị trí dành cho người sử dụng tay phải thường không thuận lợi cho người dùng tay trái ở một vài thao tác cắt,
vì vậy nó được thiết kế để có thể đổi ngược vị trí. Loại này lý tưởng cho người dùng tay trái sử dụng kéo thiết kế cho tay phải.

Kiểm tra độ căng : cầm kéo bằng tay trái, để đứng kéo, mở rộng kéo hết cỡ và cho một lưỡi rơi tự do về phía đóng hoàn toàn.

Khi độ chặt đúng nó sẽ dừng lại nhẹ nhàng ở vị trí 10 giờ.

adjust tension

VI. Chiều dài kéo

Nhiều thợ cắt tóc lựa chọn chiều dài kéo theo kích thước bàn tay, nhưng thực tế cần phải lựa chọn theo các kỹ thuật cắt khác nhau
phù hợp với công việc, ví dụ kéo ngắn thích hợp hơn cho việc cắt các chi tiết chính xác, cắt tóc nhỏ sợi trong khi kéo dài hơn thích hợp
việc cắt mạnh mẽ, cắt tóc to sợi…

– Chiều dài kéo tính từ mũi kéo đến phần xỏ ngón tay xa nhất. Không tính phần giữ ngón út.
– Kéo cắt thường có chiều dài phổ biến là 5, 5.5, 6 inch.
– Lựa chọn kéo theo kích thước bàn tay :   Đặt kéo lên lòng bàn tay với phần xỏ ngón tay nằm ở chân ngón tay cái,
phần mũi kéo nên nằm lọt trong đốt ở đầu ngón tay giữa.
– Lựa chọn kéo theo công việc: Một số trường hợp cần sử dụng kéo dài tốt hơn là kéo ngắn ( ngón tay khỏi đụng tóc hoặc đụng vào người khách, cắt nhanh hơn) như cắt các đường tóc Bob, cắt trượt, cắt theo lược, cắt trước mặt, cắt trên da…

slideslide

overcombovercomb2

VII. Kéo tỉa

Có nhiều loại kéo tỉa, thường chia làm các loại sau:

1- Kéo tỉa mỏng hay hòa trộn

thinning blending
– Kéo tỉa có răng nhỏ và khoảng cách giữa các răng hẹp sẽ tỉa mỏng tóc theo cách không tạo kết cấu hay độ phồng nhìn thấy được.
– Phần tóc được cắt và không cắt hòa trộn với nhau. Chúng thường có từ 30-45 răng tùy thuộc vào chiều dài lưỡi kéo,
cắt bỏ từ 10-50% tóc. Loại kéo này phù hợp để hòa trộn các vết cắt và giảm độ nặng mà không tạo thêm độ phồng.
– Nó cũng có thể được dùng để làm mềm và xóa bỏ vết cắt cùn.
2- Kéo tỉa tạo kết cấu tinh tế

subtle-texture
Kéo tỉa có răng hơi lớn hơn và khoảng cách giữa các răng hơi rộng hơn. Chúng thường có từ 14-22 răng, cắt bỏ từ 40-70% tóc.
Răng lớn hơn cắt đứt tóc đáng kể hơn so với kéo tỉa hòa trộn. Phần tóc ngắn sẽ nằm bên dưới và hỗ trợ phần tóc không bị cắt
tạo kết cấu nhìn thấy và độ phồng nhẹ. Loại kéo này có thể được dùng trên hầu hết loại tóc vì kết quả tinh tế nhưng không dễ chú ý
3- Kéo tỉa răng lớn

aggressive
Kéo tỉa có răng và khoảng cách giữa các răng lớn. Chúng thường có từ 5-9 răng, cắt bỏ từ 40-80% tóc.
Phần tóc không bị cắt là các mảng rộng hơn vì thế tạo kết cấu rõ ràng.

4- Kéo tỉa 2 lưỡi răng

double

Kéo tỉa có răng trên cả hai lưỡi. Nếu được chế tạo tốt nó sẽ tỉa mỏng mà không để lại vết cắt nhìn thấy.
Có thể cắt theo bất kỳ hướng nào.

VIII. Bảo quản kéo

– Không bao giờ để kéo mở. Luôn khép kéo hoàn toàn để bảo vệ lưỡi kéo.
– Không để kéo chồng lên nhau
– Để kéo ở nơi khô ráo
– Không dùng kéo cắt tóc cắt bất cứ gì khác ngoài tóc.
– Điều chỉnh độ chặt của lưỡi kéo cho thích hợp. Nếu quá lỏng sẽ mau hỏng kéo.
– Không gỡ bỏ chốt giảm ồn của kéo, sẽ làm mất cân bằng mũi kéo.
– Lau chùi tra dầu mỡ mỗi ngày. Không dùng dầu tông đơ cho kéo cắt tóc.
– Mài kéo ở nơi uy tín, tránh làm hỏng kéo.

sharpening

improper sharpening

4 – Cách cầm kéo

Hướng dẫn cầm kéo cắt tóc

vitringontay

Vị trí ngón áp út

vitringoncai

Vị trí Đúng của ngón cái. Chỉ chạm vào vòng, không xỏ xuyên ngón cái qua.

vitrisai

Vị trí Sai của ngón cái. ( Xỏ xuyên qua vòng, gây chuyển động cả bàn tay)

cachcamkhac

Một cách cầm kéo khác. Ngón trỏ để lên thân kéo.

hold

Cách nhấp kéo. Chỉ nhấp ngón cái. Bốn ngón khác giữ yên. Hạn chế chuyến động cổ tay.

colapse

Cách thu kéo về tay sau khi cắt xong.

xoay keo

Cách thu kéo khác. Tốc độ nhanh hơn để khỏi rớt kéo.

 

5 – Tư thế đứng cắt tóc

+ Tư thế cơ bản khi đứng cắt tóc

– Đứng chân trước chân sau, tạo thành góc 2 giờ.
– Chân trụ chuyển đổi từ sau ra trước hoặc trước ra sau khi chồm tới trước hoặc ngã ra sau.

tu-the-3

+ Tư thế khi đứng cắt bên hông

– Chuyển động người theo chiều ngang từ trái qua phải hay từ phải qua trái

tuthedung

+ Tư thế khi đứng cắt đằng sau

tu the dung

+ Một số tư thế đứng sai

– Đúng chụm chân, đứng khòm người

tu-the-sai

1 – Quan sát đối tượng
2 – Các đặc tính của khối hình
3 – Phân tích hình dáng mẫu tóc
4 – Nguyên lý thiết kế
5 – Bốn hình thể cơ bản
6 – Khuôn mặt và cơ thể
7 – Sự kết hợp trong thiết kế mẫu tóc
8 – Phương pháp thiết kế mẫu tóc
9 – Kiểu tóc cho khuôn mặt trái xoan
10 – Kiểu tóc cho khuôn mặt tròn
11 – Kiểu tóc cho khuôn mặt dài
12 – Kiểu tóc cho khuôn mặt vuông
13 – Kiểu tóc cho khuôn mặt trái tim
14 – Kiểu tóc cho khuôn mặt kim cương
15 – Kiểu tóc cho khuôn mặt tam giác

1 – Quan sát đối tượng

 I. Phân tích định tính và định lượng
    + Phân tích định tính : thu thập dữ liệu bằng chữ nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm của đối tượng. Ví dụ, trong quan sát một bó hoa hồng bạn nhìn thấy các bông hoa, cành và lá.
+ Phân tích định lượng : thu thập dữ liệu bằng số, xem xét kích thước, tỉ lệ, chủ đề để xác định số lượng của mỗi phần. Ví dụ, bạn có thể thấy 6 hoa hồng trắng, 6 hoa hồng đỏ, tỉ lệ 1:1.
Roses
II. Ba cấp độ quan sát
 
Có vô số các biến thể về kiểu tóc. Chúng bao gồm hình dáng, kết cấu, độ dài và các khía cạnh khác của sự thay đổi, làm thế nào để bắt đầu phân tích những khả năng thay đổi vô tận này? Điều này đòi hỏi một phương pháp có hệ thống, đó là chia nhỏ đối tượng quan sát thành các cấp độ khác nhau.

Mỗi góc nhìn của cùng một vật giống nhau có thể không giống nhau. Nhưng với một hệ thống phân tích, sự khác biệt giữa các góc nhìn khác nhau có thể được thảo luận. Vì thế chúng ta có thể dễ dàng nghiên cứu và phân loại. Ở đây chúng ta quan sát quy trình thành ba cấp độ. Hình dáng cơ bản, kết cấu và rút ra chi tiết của cấu trúc. Hãy nhớ luôn luôn sử dụng quá trình quan sát phân tích định tính và định lượng.

2 – Các đặc tính của khối hình

– Một nhà tạo mẫu tóc cần hiểu rõ 3 yếu tố thiết kế cơ bản đó là : hình dáng, kết cấu, màu sắc.
– Trong phần này chúng ta xem xét yếu tố hình dáng.
– Một hình khối 3 chiều (3D) bao gồm chiều dài, chiều rộng và chiều sâu
3dshape

– Yếu tố tạo nên hình khối gồm : đường, hướng và hình dáng

+ Đường:

– Đường (thẳng hoặc cong) được tạo thành từ các điểm nối với nhau.

diem
+ Hướng

– Hướng bao gồm hướng ngang, dọc hoặc xiên.
– Hướng từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái
– Hướng từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên
huong
– Đường thẳng có thể dày hoặc mỏng

duongdaymong
– Đường cong có thể lồi hoặc lõm

duongcong

loilom
– Đường cong đảo ngược là 2 đường cong ngược hướng

revertart

– Đường cong có thể đảo ngược tỉ lệ

tile
– Chiều sâu của đường hình cung

hinhcung

– Đường hình cung có thể thay đổi từ chậm đến nhanh
nhanhcham

 

+ Hình dáng

– Một hình 2 chiều (2D) bao gồm chiều dài và chiều rộng

2d

– Hình được tạo ra từ các đường ( các cạnh ) giao nhau.

hinhcanh
– Một kiểu tóc có đường viền theo một hình dáng
hinh khoi

Observation

+ Hình dáng cơ bản :

Ở cấp độ này việc phải làm chỉ nhìn thiết kế và ghi nhớ cảm giác trực quan. Thiết kế kiểu tóc là nhìn vào đường viền của hình dáng.

+ Kết cấu chi tiết :

Ở cấp độ này bạn bắt đầu chú ý vào kích thước của mỗi vùng và phân tích các đặc tính riêng. Phân biệt các đặc tính về kết cấu và màu sắc.

+ Cấu trúc trừu tượng

Tại thời điểm này, bạn đã giành được hai cấp độ thông tin đầu tiên. Nếu chiều dài thay đổi, cần nhận biết. Bạn không chỉ phải hiểu và cảm nhận hình ảnh, mà còn phải hiểu cách mà hình ảnh được tạo thành.

3 – Phân tích hình dáng mẫu tóc

– Tóc tự nhiên rũ xuống ôm theo đầu, chúng ta có thể phân tích kết cấu, chiều dài và hướng của tóc.
– Mô hình đầu được chia đều 7 phần theo chiều ngang, đánh dấu bằng các chữ cái, giúp mô phỏng các mẫu tóc.
– Để phân tích mẫu tóc, chia nó thành nhiều phần, phương pháp này có thể mô phỏng bất kỳ mẫu tóc nào.

02a

– Trước tiên quan sát tóc ở trạng thái rũ xuống tự nhiên, và bắt đầu phân tích hình dáng. Tập trung vào đường viền chính và

đường viền tưởng tượng từ đó nhận ra hình dáng chính của thiết kế.

01a

– Chúng ta cũng đo được chiều dài từng phần để tạo ra hình dáng của tổng thể

07a

– Trong ví dụ tóc có chiều dài ở vị trí D, đường thiết kế cắt ngang đây. Các cấp và mức phân chia trong hệ thống phân tích giúp

phân tích chiều dài của tóc.

03a

– Ở trạng thái tự nhiên chúng ta có thể quan sát kết cấu bề mặt của tóc. Kết cấu và cấu trúc có liên hệ trực tiếp với nhau.

05

4 – Nguyên lý thiết kế

Hiểu rõ các nguyên lý thiết kế giúp bạn hiểu sâu hơn trong thiết kế tạo mẫu tóc. Sau đây là một vài nguyên lý cơ bản:

+ Lặp lại
Tóc ở các vị trí khác nhau giống như nhau. Nguyên tắc được lặp lại.

nl01a
+ Thay đổi luân phiên
Khi hai hay nhiều phần của một trình tự nào đó được lặp lại.

nl05a
+ Lũy tiến
Các yếu tố giống nhau nhưng có các thay đổi theo tỉ lệ. Tỉ lệ này tăng hay giảm chiều dài của tóc

nl03a
+ Tương phản
Đối nghịch nhau giữa các phần. Tạo sự hấp dẫn.

nl02a
+ Không liên kết
Tạo sự khác biệt giữa các phần dẫn đến kết quả không đồng đều.

nl04a
+ Cân bằng
Cân bằng là sự kết hợp hoàn hảo giữa các bộ phận khác nhau. Nó bao gồm cân bằng đối xứng và cân bằng bất đối xứng.

nl07
+ Cân bằng đối xứng
Đối xứng về vị trí, kích thước và hình dáng.

nl08
+ Cân bằng bất đối xứng
Bất đối xứng về lượng tóc ở hai bên. Dù không đối xứng qua trục giữa nhưng hình dáng tóc hai bên có cảm giác cân bằng.

nl06

5 – Bốn hình thể cơ bản

I. Đặc chắc thuần nhất (Solid shape)

Chiều dài mở rộng và tăng dần từ vùng ngoài đến vùng trong ( từ ót lên đỉnh đầu ), tất cả tóc đổ xuống cùng một đường ngang tạo thành kết cấu tĩnh và đường viền hình chữ nhật.

SolidShape

II. Phân cấp tăng dần (Edge-level shape)

Chiều dài từ vùng trong đến vùng ngoài giảm dần. Tóc xếp chồng lên nhau. Kết cấu nữa tĩnh nữa động. Đường viền hình tam giác.

Edge

III. Xếp lớp tăng dần (Increasing levels shape)

Chiều dài tóc tăng dần từ vùng trong ra vùng ngoài. Kết cấu mang tính động cao. Tạo hình dạng thon dài.

increasing

IV.  Xếp lớp đồng đều (Equal level shape)

Chiều dài tóc bằng nhau. Tóc trải đều theo đường viền của đầu, tạo thành kết cấu động.

equal

 

B. KHÓA NHUỘM

6 – Khuôn mặt và cơ thể

I- Khuôn mặt

Nhận dạng các hình dáng khuôn mặt để thiết kế kiểu tóc phù hợp.

1- Khuôn mặt trái xoan – Oval

oval

Khuôn mặt trái xoan có chiều dài dài  hơn chiều rộng. Đường trán và hàm cùng chiều rộng, và cằm tròn.

2- Khuôn mặt tròn – Round

round

Khuôn mặt tròn thường có chiều dài bằng chiều rộng cho cảm giác như một hình tròn. Cằm tròn.

3- Khuôn mặt vuông – Square

square

 

Khuôn mặt vuông có xương gò má rộng, trán rộng, một đường hàm mạnh và góc cạnh, và cằm hình vuông.

4- Khuôn mặt dài – Oblong

oblong

Khuôn mặt thuôn dài và hẹp với với đường gò má thẳng, dài. Cằm nhọn.

5- Khuôn mặt trái tim – Heart

heart

 

Khuôn mặt trái tim rất hẹp ở đường hàm và nở rộng hơn về phía trên của khuôn mặt. Nó tạo xương gò má và trán rộng, và có cằm nhọn.

6- Khuôn mặt kim cương – Diamond

diamond

Khuôn mặt kim cương có hình dáng dài và hẹp. Phần rộng nhất của khuôn mặt là xương gò má, trong khi đường trán và hàm hẹp. Cằm nhọn.

7- Khuôn mặt tam giác – Triangular

triangular

Khuôn mặt tam giác có phần dưới nặng. Phần trán và xương gò má hẹp, trong khi quai hàm rộng và cằm có hình vuông.

 

8- Khuôn mặt thẳng

matthang2

Là khuôn mặt lý tưởng, phù hợp với hầu hết các kiểu tóc.

 

9- Khuôn mặt lồi

matloi2

Hình dạng khuôn mặt này đặc trưng bởi trán nhỏ và mũi to.  Tăng vùng tóc ở trán sẽ giúp khuôn mặt phẳng hơn.
Giữ thiết kế tóc ở gần gáy.

 

10- Khuôn mặt lõm (Mặt lưỡi cày)

matlom2

Mặt lõm vào trong, cằm nổi bật nhô ra. Vùng tóc ở cổ nên tạo chuyển động hướng lên. Không tạo nhiều tóc ở phần trán.

 

11- Khuôn mặt trán thấp, cằm nhô

matcamnho2

Tạo sự đầy đặn cho trán với phần mái nhô cao. Tạo độ xoăn nhẹ ở gáy để làm mềm đường cằm.
Không kết thúc thiết kế ở gáy vì nó thu hút sự chú ý đến vùng cằm.

II – Cơ thể

1 – Vóc dáng

Quan sát cơ thể của khách hàng như chiều cao, cân nặng, dáng vóc để quyết định mẫu tóc.
Ví dụ, nếu bạn có dáng vóc nhỏ nhắn mà để kiểu tóc quá dài sẽ cảm thấy bị choáng ngợp,
một người cao ráo với kiểu tóc dài sẽ thêm phần duyên dáng.

01bodyshapew

01bodyshapew2
2- Vai

– Người có vai rộng để kiểu tóc dáng nhọn sẽ cho cảm giác vai nhỏ lại. Có thể kết hợp với áo cổ V.

02wideshoulderw
– Người có vai hẹp để kiểu tóc dáng ngang sẽ cho cảm giác vai rộng hơn. Có thể kết hợp với độn vai.

03narrowshouderw

7 – Sự kết hợp trong thiết kế mẫu tóc

I – Tỉ lệ trong thiết kế

– Là tỉ lệ của các đối tượng trong mối liên hệ số lượng và mức độ, hay là sự phân chia của các phần thiết kế trên đầu.

Ratio

– Tỉ lệ cân bằng
– Tỉ lệ mất cân bằng
– Tỉ lệ vàng là tỉ lệ giúp thiết kế thu hút sự chú ý nhưng không phá vỡ sự cân bằng

II. Các vùng trên đầu

Thiết kết tóc có thể được điều chỉnh tùy thuộc vào hình dáng đầu của khách hàng. Điều này  rất quan trọng. Dù mỗi khách hàng có hình dáng đầu khác nhau, sau đây là một vài mẫu cho bạn tham khảo.

Thông thường phân chia từ vùng trong tới vùng ngoài, tùy theo sự phân vùng đầu, để hiểu được trạng thái tóc tự nhiên của mỗi khách hàng giúp quyết định tỉ lệ sử dụng trong thiết kế. Vùng trong và vùng ngoài được ngăn cách bởi vùng giữa, là vùng rộng nhất.

08

– Vùng trong nằm trên đỉnh đầu. Hướng mọc tóc tự nhiên, tóc càng ngắn nhìn càng rõ.

09

– Vùng giữa bị ảnh hưởng bởi trọng lực, thường rũ xuống.

05

– Vùng dưới vùng giữa là vùng ngoài, trọng lực kéo tóc chùng xuống.

07

III. Hình thể hỗn hợp

Xem xét một vài đặc tính của hình thể hỗn hợp và mối liên hệ tỉ lệ của nó :

– Hình thể đặc của vùng ngoài kết hợp với hình thể xếp lớp tăng dần của vùng trong sẽ tối đa hóa chu vi để đạt được khối lượng toàn

diện và tính động của bề mặt.

01

– Sự kết hợp của hình thể phân cấp tăng dần và xếp lớp tăng dần sẽ định hình vùng tóc rõ rệt, các lớp tăng dần làm chú ý đến kết cấu và sự hòa trộn kết cấu phân cấp hình thành một kết cấu bề mặt năng động.

02

– Chiều dài đồng đều bên trong được kết hợp với chiều dài xếp lớp tăng dần bên ngoài tạo một bề mặt sống động cao và kéo dài về phía đường viền tóc.

mix

 

– Sự kết hợp của hình thể xếp lớp đồng đều và hình thể xếp lớp tăng dần tạo hiệu ứng kéo dãn ra, kết cấu bề mặt là kết cấu động.

03

– Sự kết hợp của hình thể xếp lớp đồng đều và phân cấp tăng dần, vùng tóc ngắn hơn bên ngoài dần hòa trộn với vùng dài đồng đều bên trong tạo kết cấu bề mặt sống động

mix

– Hình thể tăng dần tạo vùng ngoài ôm sát họa trộn với chiều dài của vùng xếp lớp đồng đều tạo vùng trong bo tròn, tiếp nối vùng phân cấp tăng dần để tạo khối lượng, hướng tâm điểm về phía mặt.

mix

– Khối lượng ám chỉ đến sự tập trung của một vùng tóc. Trong hình thể hỗn hợp phải tính đến vùng nào dầy, vùng nào mỏng để thu hút sự chú ý đến đó nhằm nhấn mạnh các đặc tính cần thể hiện.

04

– Thay đổi tỉ lệ của hình thể đặc. Khối lượng thay đổi theo tỉ lệ.

06

– Thay đổi tỉ lệ của hình thể phân cấp tăng dần làm thay đổi vị trí khối lượng tóc. Sự thay đổi tùy theo từng khách hàng cụ thể.

12

– Trong hình thể hỗn hợp xếp lớp đồng đều và xếp lớp tăng dần, việc thay đổi tỉ lệ sẽ làm tăng hoặc giảm mức độ co giãn của tóc.

11

– Tùy theo yêu cầu cầu thiết kế, bạn có thể dùng hoặc không dùng một hình thể hỗn hợp.

10